} catch (e) {}; //]]>

Jade - Đá cẩm thạch, ngọc thạch, ngọc bích

Cẩm thạch (jade) là danh từ chung để chỉ hai loại đá quý riêng biệt, là jadeite (ngọc phỉ thúy) và nepherite (ngọc bích), là loại đá quý, có năng lượng và như một biểu tượng độc đáo. Sự độc đáo được thể hiện qua những huyền thoại xoay quanh nó. Với vẻ đẹp của đá cẩm thạch và những gì nó thể hiện và được công nhận trên phạm vi rộng, cẩm thạch  đã trở thành một sự thu hút đặc biệt đối với con người từ hàng ngàn năm.


Là loại đá quý đa khoáng, nghĩa là jadeite hoặc nepherite chỉ là một trong các thành phần tạo đá, tuy nhiên hàm lượng của chúng chiếm đa số nên tên của chúng được dùng để gọi tên, như cẩm thạch jadeite hoặc cẩm thạch nepherite. Hiện nay trên thị trường quốc tế, jadeite được ưa chuộng và có giá trị cao hơn nepherite vì thường có màu sắc đẹp hơn, trong và cứng chắc hơn.

Cẩm thạch với nhiều màu sắc khác nhau

Đá quý này, có nhiều sắc thái đẹp của màu xanh lá cây, nhưng cũng có khi trong và màu trắng, xám, đen, vàng, màu da cam và tông màu tím tinh tế, đã được biết đến từ rất lâu. Thuở xưa, nó đã được coi trọng hơn so với loại đá khác nhờ độ dẻo dai, khiến nó trở thành một vật liệu lý tưởng dùng làm các loại vũ khí và công cụ. Ở Trung Hoa thời xa xưa, Jade đã được sử dụng không chỉ cho các người đứng đầu các giáo phái, cả trong nội thất trang trọng cho các thành viên cao cấp của gia đình hoàng gia. Này nay cũng vậy, đá quý này được coi như một biểu tượng của lòng tốt, sự xinh đẹp và quý giá. Nó là hiện thân của các phẩm chất Nho giáo, của trí tuệ, công lý, lòng từ bi, khiêm tốn và can đảm, nhưng nó cũng tượng trưng cho nữ tính và sự quyến rũ.

Trước đây, người Maya, Aztec và Olmec ở Trung Mỹ cũng thích thú và quý cẩm thạch hơn cả vàng. Khởi đầu, Maori của New Zealand bắt đầu khắc vũ khí và dụng cụ của giáo phái từ ngọc tự nhiên, một truyền thống mà vẫn được tiếp tục cho đến ngày nay. Ở Ai Cập cổ đại, cẩm thạch được ngưỡng mộ như đá của tình yêu, bình an nội tâm, sự hài hòa và cân bằng. Trong các khu vực và các nền văn hóa khác, cẩm thạch  được coi như một loại đá may mắn hoặc sự bảo vệ. Thời gian gần hơn, nhờ sự hiểu biết của người dân về đá quý này đã mê hoặc không chỉ những người sành về đá mà vì đặc tính hoàn hảo của độ cứng và độ dẻo dai với một sức mạnh hấp dẫn của màu sắc và độ bóng tốt của đá đã được cải thiện; và sự yêu thích về nó đã được sự gia tăng trên toàn thế giới.

Lịch sử phát hiện jade. 

Phát hiện đầu tiên về Jade liên quan đến hai nền văn minh cổ Mesoamerica và Trung Quốc. 

Mesoamerica: là vùng đất văn minh cổ, kéo dài từ phía Bắc Mexico đến Trung Mỹ được biết như là Olmec, Aztec, Maya… Thuở sơ khai thổ dân vùng Mesoamerica dùng loại đá này để khắc hình những vị thần tế lễ, nghiền nhuyễn để uống chữa bệnh đau bụng, chính vì thế vào đầu thế kỷ 16 trước công nguyên khi người Tây Ban Nha phát hiện Trung Mỹ họ đã đặt tên loại đá này là piedra de ijada có nghĩa là đá bảo vệ vùng thắt lưng và sau này được chuyển thể ngôn ngữ hàn lâm Pháp – Anh là Jade.

Trung Quốc: Jade được phát hiện cách đây hơn 12000 năm, dùng để khắc hình những vị thần tượng trưng cho sức khỏe, trái đất (nước, lửa, gió, đất)…Vào thời nhà Chu (1122 – 221 trước Công Nguyên), kỹ thuật chế tác tinh xảo đã đưa Jade vào đời sống sinh hoạt của giai cấp thống trị. Jade dùng làm trâm cài, lược, hộp đựng trang sức, bộ tách trà, gậy, tô điểm cho vỏ kiếm… Dòng trang sức Jade được phương tây sáng tạo nên nhiều kiểu đa dạng hơn như nhẫn, hoa tai, vòng… du nhập vào Trung Quốc sau chiến tranh thế giới thứ nhất qua đường giao thương hàng hải. Kể từ đó Jade được phổ biến rộng rãi phục vụ cho cả giới bình dân.

 

 Nephrite.

 Jadeite.
 Jade-like (Bowenite or Serpentine).

Phân loại đá cẩm thạch 

Đặc điểm chung của Jade là một loại đa tinh thể dạng khối đặc, những tinh thể có đặc điểm là đan chéo nhau hay bện vào nhau trong không gian nên có độ rắn chắc cao, khó bể hơn những khoáng khác. 

Khởi thủy Jadeite và Nephrite được xem như nhau và gọi chung là Jade (cẩm thạch). Năm 1863 nhà Khoáng vật học người Pháp Alexis Damour sau khi phân tích Jade ở hai vùng Miến Điện và Trung Quốc đã phát hiện hầu hết Jade ở Miến Điện thuộc loại silicate của Na và Al (nhóm pyroxene); hầu hết Jade ở Trung Quốc thuộc loại silicate của Ca và Mg (nhóm amphibole). Kể từ đó Jade được phân làm hai loại: Jadeite và Nephrite. 

Jadeite mới là đại diện chính thống cho cẩm thạch, màu sậm hơn, đắt hơn, thuộc nhóm pyroxene.

 

Nephrite là loại có màu nhạt hơn, kém giá trị hơn, thuộc nhóm amphibole.

 Tẩy và tẩm polymer hoặc nhựa (B, B+C Jade).

Ban đầu dùng chất tẩm là nhựa (resin), sau dùng chất tẩm là polymer. Do polymer có đặc điểm dễ chế tạo, cứng, rẻ, ít hút ẩm, có màu gần giống màu trắng Jade và rất khó phát hiện bằng mắt thường. Chính vì thế phương pháp tẩy và tẩm polymer được dùng phổ biến từ năm 1980 cho đến nay. Nếu thêm màu vào polymer để tẩm gọi là B+C Jade. 

Các mỏ đá cẩm thạch trên thế giới

Jade ở Miến Điện (Burma) 

Jade ở Miến Điện được biết đến vào cuối thế kỷ 17 khi chiến tranh giữa Trung Quốc và Miến Điện kết thúc, Jade được du nhập vào Trung Quốc qua đường giao thương và rất được giới thống trị Trung Quốc ưa chuộng do đẹp hơn Jade ở trong nước (Jade ở Trung Quốc thực chất là Nephrite, Jade ở Miến Điện là Jadeite). 

Hầu hết Jadeite đẹp, có giá trị đều có nguồn gốc ở Miến Điện và đặc biệt là loại Imperial Jadeite (Jadeite loại 1) chỉ có ở Miến Điện. 

Jade ở vùng Mesoamerica. 

Tìm thấy ở vùng Aztec, Maya, Guatemale … 

Caribbean và bờ biển phía Bắc của Nam Mỹ. 
Trong nền văn minh Taino (năm 700 – 1000 sau Công nguyên) thổ dân vùng này dùng Jade để làm mề đay, khắc tượng… Ngày nay Jade được khai thác ở Jamaica, Cuba, Columbia…  

Russia và Kazakhstan.

Được khai thác từ đầu năm 1970 cho đến nay. 

 Mẫu thô

 Nguồn: ICA – Hồng Kông và  Đoàn Thị Anh Vũ – PNJ
Gia Cát – VIETGEMSTONE – www.vongdavietnam.com  sưu tầm và lược dịch

Chia sẻ:

Bài viết cùng danh mục:

Viết Bình luận